13:40 22/08/2018
Những trường hợp loại trừ bảo hiểm
5.00 (100%) 1 đánh giá

Bạn hãy nhớ bất cứ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nào cũng có điều khoản loại trừ. Tuỳ từng sản phẩm, từng công ty mà mức loại trừ bảo hiểm là không giống nhau. Tuy nhiên có loại trừ như thế nào cũng phải tuân theo pháp luật.

Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm điều 16: điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm:

1. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

2. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.

3. Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:

a. Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý.
b. Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Thông thường loại trừ bảo hiểm bao gồm các trường hợp sau:

1. Những thiệt hại hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra do lỗi cố ý của người tham gia bảo hiểm hoặc người được hưởng quyền lợi bảo hiểm (khi việc chi trả quyền lợi bảo hiểm đem lại lợi ích cho những người nói trên mà bản thân họ có lỗi cố ý gây ra thiệt hại hoặc rủi ro sự kiện bảo hiểm) như tự tử, đánh nhau (không phải phòng vệ chính đáng), vi phạm pháp luật, không tuân thủ uống thuốc theo đơn chỉ định của bác sỹ, không tuân thủ nội quy an toàn lao động bị tai nạn lao động,…

2. Biết được sự kiện xảy ra mới mua bảo hiểm như có bệnh sau đó mới tham gia bảo hiểm cho bệnh này (không khai báo), có thai mới mua bảo hiểm thai sản,…

3. Thiệt hại được bảo hiểm xảy ra mang tính chất thảm họa gây ra bởi động đất, sóng thần, núi lửa phun, chiến tranh, đình công, bạo động bạo loạn.

4. Thiệt hại gián tiếp như giảm sút giá trị thương mại (khi khắc phục tài sản bị tổn thất) giảm giá, mất thị trường hoặc thiệt hại kinh doanh (đối với bảo hiểm tài sản đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh không bồi thường thiệt hại về thu nhập kinh doanh mang lại từ tài sản đó kể từ khi thiệt hại đến khi khắc phục xong).

5. Thiệt hại tài sản do bị trộm cắp trong tai nạn và thiệt hại các tài sản mang theo không được kê khai rõ ràng để được bảo hiểm như tiền, vàng bạc, đá quý, trang sức, hành lý, tranh cổ, hài cốt,…

6. Các trường hợp áp dụng chế tài không chi trả tiền bảo hiểm khi người mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm vi phạm việc cung cấp thông tin về rủi ro được bảo hiểm hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 5 ngày làm việc) kể từ khi họ biết thông tin này (trừ trường hợp bất khả kháng theo Luật quy định)

7. Các rủi ro, sự kiện bảo hiểm thuộc phạm vi bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm khác đã có trên thị trường như bảo hiểm tài sản có hoặc không bảo hiểm cho bảo hiểm thiệt hại kinh doanh, bảo hiểm trách nhiệm pháp lý, bảo hiểm trách nhiệm người sử dụng lao động, bảo hiểm trộm cắp, bảo hiểm tai nạn lao động,…

8. Thu hẹp phạm vi bảo hiểm của một sản phẩm bảo hiểm đã trên thị trường bằng cách liệt kê thêm một số loại trừ bảo hiểm (rủi ro, sự kiện không được bảo hiểm) để hình thành ra sản phẩm bảo hiểm mới (như bảo hiểm hàng hóa vật chất có điều khoản bảo hiểm A,B,C, bảo hiểm tai nạn con người có các điều khoản bảo hiểm về tử vong, tai nạn và điều trị ốm đau).

Như vậy tất cả các sản phẩm bảo hiểm dù là bảo hiểm mọi rủi ro điều phải có loại trừ bảo hiểm (cho các rủi ro, sự kiện bảo hiểm) xảy ra do lỗi của người được bảo hiểm hoặc xảy ra thảm họa hoặc thuộc phạm vi bảo hiểm của loại sản phẩm khác thông dụng trên thị trường.

Việc đề ra loại trừ bảo hiểm là cần thiết và thiết yếu trong tất các các sản phẩm bảo hiểm kể cả với sản phẩm bảo hiểm mọi rủi ro vẫn phải có loại trừ bảo hiểm.